danh bạ
danh bạ
  
    
Trang chủ >> Hoạt động cấp tỉnh
Về với Côn Đảo Anh hùng

Thứ 3, 31/07/2012

Khu di tích lịch sử Côn Đảo là một trong những di tích lớn nhất, lâu đời nhất và đặc biệt quan trọng của quốc gia. Trong suốt 113 năm thống trị (1862 – 1975), thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã giam cầm đày đọa hàng chục vạn chiến sĩ cách mạng và những người yêu nước thuộc nhiều thế hệ. Chúng biến Côn Đảo thành “Địa ngục trần gian” khét tiếng. Nhưng cũng chính tại nơi đây, các chiến sĩ cách mạng đã thể hiện ý chí đấu tranh kiên cường, bất khuất, giữ vững khí tiết của người Cộng sản.

Kỳ 1: Hành trình thăm lại “Địa ngục trần gian”
Cùng tuổi trẻ An Giang tham gia chuyến du khảo về với Côn Đảo Anh hùng thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu vỏn vẹn 2 ngày nên khó có thể tìm hiểu được hết những sự kiện, những tấm gương dũng cảm của các chiến sĩ cách mạng đã hy sinh ở nhà tù Côn Đảo. Song, chuyến đi này lại có ý nghĩa đặc biệt để thế hệ trẻ hiểu và tự hào hơn về vùng đất thiêng liêng của Tổ quốc, biểu tượng của Chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng Việt Nam.
 
Bên trong phòng giam (trại Phú Hải).

5 giờ chiều, đoàn có mặt tại bến tàu (TP. Vũng Tàu) để ra Côn Đảo. Tàu khởi hành trong màng mưa mờ đục lao xao sóng gió. Trời về khuya, sóng biển ngày càng nhiều, chiếc giường cũng lắc lư theo con tàu. Lúc này ngồi cũng chẳng được, ngủ cũng không xong, tôi càng khâm phục hơn ý chí của những chiến sĩ cách mạng năm xưa, khi họ tìm cơ hội vượt ngục trên chiếc xuồng tự chế mênh mông giữa biển cả.
5 giờ sáng, mọi người háo hức có mặt trên boong tàu. Thời tiết không còn mưa, trời quang mây tạnh. Từ xa, đã thấy xuất hiện những hòn đảo nhỏ. Nhiều bạn trẻ tranh thủ “chộp” lại khoảnh khắc đẹp giữa biển. Trước mắt, toàn cảnh Côn Đảo dần hiện ra. Gần 6 giờ, tàu cặp bến Côn Đảo - Quần đảo tiền tiêu nằm phía đông nam, gồm 16 hòn đảo lớn nhỏ, với tổng diện tích 76km2. Nơi đây, tháng 4-1979, Bộ Văn hóa- Thể thao đã quyết định đặc cách công nhận Khu di tích lịch sử nhà tù Côn Đảo, gồm 19 di tích trọng điểm. Theo lịch trình, đoàn được hướng dẫn đến tham quan điểm đầu tiên là Khu nhà chúa đảo và kế tiếp là hàng loạt nhà tù. Ngay từ khi thành lập nhà tù, thực dân Pháp đã đày ra Côn Đảo 50 phạm nhân, sau đó là hàng ngàn người. Đặc biệt trong giai đoạn từ 1967-1969, Mỹ - ngụy leo thang chiến tranh, số lượng tù nhân bị giam giữ tăng dần, có lúc lên đến con số 10.000 người.


Phục trang lại hình nhân trong cảnh tra tấn người tù ở trại Phú Tường.

Đến Trại Phú Hải, nơi đã từng giam giữ cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Đây là trại giam lớn và cổ nhất ở Côn Đảo, mang đậm dấu tích của các thời kỳ lịch sử. Cũng như nhiều bạn trẻ trong đoàn, tôi không khỏi nhói lòng, đáy mắt cay xè khi trông thấy những hình nhân tù chính trị ở các phòng giam với những cơ thể gầy guộc trơ xương, chân bị xiềng xích gông cùm…
Rời Trại Phú Hải đến “Chuồng cọp Pháp” (xây dựng năm 1940), gồm 120 phòng biệt giam. Ở mỗi phòng, bên trên có song sắt kiên cố và có hành lang ở giữa dành cho cai ngục đi lại kiểm soát, hành hạ người tù (ném vôi bột, dội nước bẩn). Ngoài ra, còn có 60 phòng không có mái che được gọi là “Phòng tắm nắng”, là nơi dùng để hành hạ phơi nắng, phơi mưa người tù hoặc là lôi người tù ra đó để tra tấn. Chúng tôi tự hỏi, tại sao con người có thể tồn tại được trong một hoàn cảnh nghiệt ngã đến vậy. Không phải chỉ tồn tại mà các chiến sĩ cách mạng còn kiên cường đấu tranh khiến kẻ thù khiếp sợ. Tiếp tục đến Trại Phú Bình tận mắt chứng kiến “Chuồng cọp kiểu Mỹ” (xây dựng năm 1971), gồm 384 phòng biệt giam. Tối om và lạnh lẽo, kiểu nhà giam đặc biệt bằng bê-tông không có bệ nằm, người tù phải nằm dưới nền xi-măng ẩm thấp. Đây cũng là nơi nổi dậy đầu tiên vào lúc 12 giờ đêm 30-4, rạng sáng 1-5-1975 giải phóng nhà tù Côn Đảo thoát khỏi cảnh “Địa ngục trần gian” suốt 113 năm.
Kỳ 2: Viếng Nghĩa trang Hàng Dương
Với sự tàn bạo của hệ thống nhà tù, có khoảng 20.000 người Việt Nam đã lần lượt hy sinh và được chôn cất tại Nghĩa trang Hàng Dương. Đây cũng là nơi yên nghỉ của Liệt sĩ cách mạng Lê Hồng Phong, Nhà yêu nước Nguyễn An Ninh, Anh hùng Cao Văn Ngọc và nữ Anh hùng Võ Thị Sáu…
Nghĩa trang Hàng Dương – Côn Đảo rộng khoảng 20 héc-ta, khác hẳn với các nghĩa trang liệt sĩ trong nước, không phô trương khác với thực tế lịch sử mà hài hòa, hợp với cảnh trí thiên nhiên, gây ấn tượng sâu lắng. Dọc trên con đường rợp bóng hoa phượng vĩ dẫn vào khu tưởng niệm, chẳng ai dặn dò gì nhưng tất cả chúng tôi đều nhè nhẹ từng bước chân. Sợ đâu đó vô tình lại giẫm lên thi thể của các cô, các chú khi bất chợt nhớ đến câu thơ: “Đất Côn Lôn (Côn Đảo) năm, sáu lớp xương người”. Ai đã đến Hàng Dương đều không thể cầm lòng khi nhìn thấy những nấm mộ chen nhau, nhấp nhô trải khắp một vùng đồi. Những nấm mộ có tên và nhiều nấm mộ không tên, những nấm mộ lấp ló trong lùm cây, bụi cỏ… Chúng tôi chia nhau thắp hương cho các ngôi mộ, từ mộ của Nhà yêu nước Nguyễn An Ninh; mộ của đồng chí Lê Hồng Phong, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương… đến cuối cùng là mộ của chị Võ Thị Sáu. Có rất nhiều du khách đến viếng, thắp hương và nán lại. Ngôi mộ được xây bằng đá cẩm thạch, tôi vội chụp vài kiểu ảnh ghi dòng tiểu sử của chị trên bia đá: “Võ Thị Sáu, quê Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, sinh năm 1933, anh dũng hy sinh ngày 23 tháng 1 năm 1952, khi 19 tuổi”. Trong vài phút ngắn ngủi, tôi chỉ kịp nghe người hướng dẫn viên thuyết minh kể về sự anh dũng, gan dạ của chị Võ Thị Sáu - Người thiếu nữ đầu tiên và duy nhất trong lớp tù nhân kháng chiến (1946-1954) bị đưa ra hành hình ở Côn Đảo; người thiếu nữ bị bắt và bị kết án từ lúc tuổi vị thành niên.


Trước phút hành hình, tên Chánh án Pháp hỏi chị có yêu cầu gì trước khi chết? Võ Thị Sáu yêu cầu không bịt mắt để chị được nhìn đất nước mình đến giây phút cuối. Tên Chánh án từ chối, với lý do là luật pháp đã quy định khi thi hành án tử hình. Võ Thị Sáu hỏi lại hắn:
-Vậy ông không nhìn nhận ra rằng bản án tử hình áp dụng cho một người phụ nữ chưa đủ tuổi thành niên là một “ngoại lệ” của luật pháp nước Pháp sao?
Tên Chánh án lúng túng và do dự, nói: “Tất nhiên là vẫn có ngoại lệ, song tôi sợ điều đó ảnh hưởng đến tâm lý của cô”. Và chị Sáu đã trả lời: “Không sao. Tôi có đủ can đảm để nhìn thẳng vào họng súng của các người”. Khi tên Chánh án quay ra đọc lệnh thi hành án thì Võ Thị Sáu bắt đầu hát bài “Tiến quân ca”, bài Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Khúc hát vừa dứt, chị nhìn thẳng vào bảy nòng súng đen ngòm. Tên đội trưởng đội hành quyết hô: “Mục tiêu… chuẩn bị…”. Võ Thị Sáu ngừng hát và thét lớn: “Đả đảo thực dân Pháp!”, “Việt Nam độc lập muôn năm!”, “Hồ Chủ tịch muôn năm!”. Bảy tên đao phủ giật nảy người. Bảy tiếng súng khô khốc lụp bụp nổ. Lạ thay, Võ Thị Sáu vẫn hiên ngang đứng đó. Chị nhìn chúng, ngạo nghễ và giễu cợt. Hai vệt máu từ vai và sườn chị tuôn đỏ vạt áo. Chị hát tiếp khúc Tiến quân ca… Tên Chánh án gầm lên và ra lệnh bắn tiếp. Bọn lính chống súng lắc đầu. Chưa bao giờ bọn đao phủ lại rơi vào tâm lý hoảng loạn như lần này. Cặp mắt trong trẻo của người thiếu nữ kia như có một ma lực xoáy vào tim gan, khiến chúng nôn nao run rẩy. Nhiều tên đã nhắm mắt bóp cò. Loạt đạn ấy chỉ có 2 viên găm vào bả vai và sườn trái chị Sáu, một viên sượt mang tai. Tên đội trưởng lầm lũi bước đến gí khẩu súng ngắn vào tai chị bóp cò… Ngày 2-8-1993, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã ký quyết định truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho liệt sĩ Võ Thị Sáu.
Theo tập sách “Võ Thị Sáu – Con người và huyền thoại” của tác giả Nguyễn Đình Thống (do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bà Rịa-Vũng Tàu xuất bản năm 1993), từ khi chị Sáu nằm xuống đã có biết bao huyền thoại. Rất nhiều tên ác ôn đã gặp chị Sáu trong mơ, thấy chị trừng mắt nhìn làm chúng phát điên, phát bệnh mà chết bất đắc kỳ tử. Những người dân lành thì thấy chị nhìn họ trìu mến, chan chứa một nỗi niềm cảm thông, sâu lắng. Dân đảo thờ chị Sáu như một vị thần hộ mệnh. Câu chuyện tạm dừng, người hướng dẫn ra dấu đi tiếp sang nơi khác. Thấy tôi có vẻ còn tiếc nuối, cô bạn đứng cạnh rủ nhỏ: “Nghe nói cứ đến 12 giờ đêm, nhân dân trên đảo lại ra thắp hương mộ chị Võ Thị Sáu đông vui lắm. Đi không?”. Chẳng chút do dự, tôi gật đầu ngay: “Đi chứ!”.
Đó là tối thứ 7, chúng tôi đi sớm hơn dự tính nửa tiếng đồng hồ. 11 giờ 30 phút khuya, khác hẳn với ban ngày khá vắng vẻ, trước cổng Nghĩa trang Hàng Dương lúc bấy giờ đông nghịch xe ô - tô. Từng dòng người nối đuôi nhau đến khu B của nghĩa trang để viếng mộ chị Võ Thị Sáu. Hạt mưa lất phất rơi… Lạ thật, ở đây dường như không có khái niệm về không gian và thời gian. Nhiều người ngồi ở băng ghế đá trò chuyện như thể trong công viên. Lại có thêm một anh chàng ngồi đệm đàn ghi-ta nhẹ nhàng với khúc nhạc hòa tấu du dương… Hàng Dương trở nên ấm áp lạ! Nhìn xung quanh nghĩa trang không phải là bóng đêm tối mịt như tôi tưởng, các ngọn đèn năng lượng mặt trời le lói sáng, mỗi ngọn đèn là một nấm mồ của các chiến sĩ đã hy sinh tại đây. Khó khăn lắm chúng tôi mới chen chúc được vào thắp nén nhang cho chị Võ Thị Sáu. Trên mộ chị, ngoài hoa tươi và khói hương nghi ngút, còn có đủ loại đồ dùng, từ son phấn, gương lược, kẹp tóc… đến các tư trang cá nhân. Một phụ nữ cùng với gia đình từ Hà Nội đi máy bay vào, vừa chắp tay cầu nguyện gì đó, rồi bà cầm chiếc khăn bước đến bên ngôi mộ cẩn thận lau khuôn hình chị Võ Thị Sáu thể hiện niềm tin yêu và sự tôn kính dành cho chị như một đấng linh thiêng.
Kỳ 3: Gặp gỡ cựu tù chính trị năm xưa
Đến Côn Đảo, khó khăn lắm chúng tôi mới có dịp gặp cô Nguyễn Thị Ni (năm nay 73 tuổi) - một cựu tù chính trị đang sống trên đảo. Dịp này, có 3 cựu tù chính trị Côn Đảo từ phương xa trở về cùng sum hợp với cô Ni.

Cô Nguyễn Thị Ni trở lại Khám 6 thắp hương cho các tù nhân.

Họ dẫn nhau đến các nhà tù, tìm về ký ức những năm tháng bị lưu đày trong cái địa ngục trần gian khét tiếng ấy… Quê ở Gò Công (Tiền Giang), năm 1968, cô Nguyễn Thị Ni bắt đầu tham gia cách mạng với nhiệm vụ quyên góp kinh tài nuôi quân và tạo cơ sở cho cán bộ, đến năm 1971 thì bị bắt. Ban đầu, cô bị đưa đến Tổng nha Cảnh sát, nhưng bọn chúng không moi được lời nào nên chuyển cô về khám Thủ Đức, rồi Tân Hiệp tiếp tục khai thác… Đến năm 1972, cô Ni bị đày ra nhà tù Côn Đảo giam giữ tại Khám 6, khét tiếng là một phòng chết điển hình của Trung tâm cải huấn - Trại Phú Hải thời Mỹ. Lúc này, chung phòng giam với cô có tổng cộng 36 nữ tù nhân. Mỗi ngày, họ được phát 1 chén cơm và 1 lon nước, ăn với mắm đắng, khô mục. “Ăn riết sưng cả tay, cả chân, cộng thêm bị chúng đánh đập tra tấn. Cứ mỗi ngày trôi qua, thân hình chị em lại thêm tiều tụy. Nhiều chị bị thương hàn, đau sốt rồi chết dần, chết mòn… Đó là những tháng ngày tù đày không thể nào quên”. Lúc mới đến trại giam, chúng bắt người tù chính trị phải lăn tay, chụp hình để ly khai Cộng sản. Mấy chị em quyết tâm đoàn kết một lòng để chống đối tới cùng. Mặc cho chúng la lối đàn áp, các chị ở bên trong phòng giam đóng cửa lại, rồi lấy củi đập lên tay chúng, hoặc dùng nước sôi tạt vào mặt chúng. Giằng co khoảng 2 tiếng đồng hồ, mở khóa không được, chúng quăng lựu đạn cay rồi tấn công vào phòng giam. Hai tên lính khiêng 1 chị bỏ ngoài sân. “Chị em người nào người nấy tóc tai, quần áo dính đầy máu, mình đầy thương tích…”. Càng cay đắng hơn khi mình bị chính những tên lính là người Việt đánh đập. Cô Ni tự nghĩ, đã đến đây rồi thì không còn gì phải sợ nữa! Cô thẳng thừng hỏi: “Thằng Mỹ qua đây, tại sao các ông không đánh đuổi chúng, mà ngược lại đi theo chúng đánh người Việt Nam. Chúng tôi là phụ nữ tay yếu chân mềm, da vàng máu đỏ cũng như các ông, sao các ông không thương mà đánh đập như vậy? Nó chỉ vào mặt tôi và nói, con này dữ lắm!”. Rồi không để cô nói tiếp, chúng lấy khăn nhét vào miệng, 4 tên lính nhào đến bẻ tay, trói chân cô vào ghế, không sao chống cự được. Sau đó chúng bắt lăn tay… Tuy nhiên, do các chị quyết liệt chống đối, kẻ nhắm mắt, người há hốc miệng, tóc tai rũ rượi nên hình ảnh chụp không đạt yêu cầu.
Khoảng mười mấy ngày sau, chúng chở cô Ni qua Trại 4 nhốt chung với gần 500 chị. Nghe cô Ni báo cáo về cuộc đàn áp bắt lăn tay, các chị truyền cho nhau kinh nghiệm, nhiều chị đã tự chà mấy đầu ngón tay của mình xuống nền xi-măng cho đến khi không còn thấy dấu vân tay… Tức tối vì không thể ép các chị lăn tay được, chúng đánh đập dã man. Hàng trăm chị em nằm la liệt, thoi thóp dưới sàn xi-măng, xanh xao, vàng vọt, nhưng riêng đôi mắt vẫn tinh anh và rừng rực khí phách. Nhiều chị sức yếu không thể chống chịu được đã chết. Trong trận đàn áp này, cô Ni nhớ không lầm mỗi tuần lễ có đến 3 - 4 người chết. Hiện nay, tất cả đều đang nằm ở Nghĩa trang Hàng Dương, trong số đó có chị Trần Thị Thanh (tên thật Nguyễn Thị Hoa) ở Đất Đỏ được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng.
40 năm trôi qua kể từ ngày bị bắt đày ra nhà tù Côn Đảo nhưng mỗi lần nhắc đến những tháng ngày bị giam cầm, cô thấy mọi chuyện như mới diễn ra ngày hôm qua. Cũng chính điều này khiến cô luôn xót xa khi nghĩ đến các chị em đã hy sinh. “Hồi ấy, cùng chiến đấu, cùng sống chung trong tù, gian khổ hột muối cũng cắn làm hai nên sau khi trao trả tù binh rồi, tôi về quê nhà mà bụng dạ chẳng yên. Cứ nghĩ đến các chị vẫn còn ở lại đất đảo, không người thân nhang đèn, thấy thương quá…”. Năm 1984, cô Ni quyết định xin chuyển công tác ra huyện Côn Đảo ở luôn cho đến nay, với mong muốn duy nhất là có thể thắp hương cho các chị. Mỗi ngày theo thông lệ, cứ 5 giờ sáng, cô Ni thức dậy đi tập thể dục quanh Nghĩa trang Hàng Dương, rồi đến thăm từng ngôi mộ. Ngày lễ Tết, thấy nhà người ta vui vẻ, sum vầy thì trong lòng cô lại se thắt về một thời đã qua. Mùng 1 Tết Nguyên đán, cô lật đật xách giỏ hương với trái cây đến Nghĩa trang Hàng Dương gọi mời các chị đã yên nghỉ trở về nhà cùng ăn Tết với mình… “Lúc đó, trong lòng mới thấy yên!”. Cô Ni cười nói.
Kỳ cuối: Côn Đảo – Vùng đất hứa
Một quá khứ bi hùng đã đi qua, ngày nay Côn Đảo đang vươn mình trở thành một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng nhất Việt Nam và mang tầm vóc quốc tế với những dự án khổng lồ về du lịch.
Côn Đảo ngày nay được biết đến như một địa điểm du lịch nổi tiếng không chỉ người Việt Nam mà tất cả du khách các nước trên thế giới đều mong ước được một lần đặt chân đến hòn đảo được mệnh danh là “Địa ngục trần gian”. Nhằm phát huy giá trị thiên nhiên và hệ thống di sản cho mục tiêu xây dựng Côn Đảo thành khu kinh tế - du lịch và dịch vụ chất lượng cao, huyện Côn Đảo đã và đang tập trung mọi nguồn lực hoàn thiện cơ sở hạ tầng, giao thông, lựa chọn loại hình dịch vụ phù hợp với xu hướng của thị trường du lịch quốc tế khi kêu gọi đầu tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chú trọng công tác quảng bá... Những nỗ lực ấy đã đem lại nhiều thành quả quan trọng. Côn Đảo liên tiếp được các kênh truyền hình và tạp chí nổi tiếng thế giới nhắc đến. Cụ thể, năm 2010, hãng phim ALP (Pháp) chọn Côn Đảo làm phim trường ghi hình trò chơi mạo hiểm Koh Lanta. Sau khi chương trình được trình chiếu trên kênh truyền hình TF1 của Pháp từ tháng 8 đến tháng 10-2010, Côn Đảo lọt vào danh sách những điểm du lịch ấn tượng và lãng mạn nhất Đông Nam Á và Châu Á do các cơ quan truyền thông hàng đầu thế giới, như: Tạp chí New York Times (Mỹ), tạp chí Lonely Planet (thuộc tập đoàn BBC - Anh)… bình chọn. Đầu năm 2011, Côn Đảo tiếp tục được Tạp chí du lịch Travel and Leisure (Mỹ) bình chọn là một trong 20 hòn đảo bí ẩn nhất thế giới.

Chụp ảnh lưu niệm tại Vân Sơn tự, ngôi chùa duy nhất trên Côn Đảo.
Là nơi nương tựa cho vong linh những người đã ngã xuống vì độc lập tự do của Tổ quốc

Từ năm 2010, huyện Côn Đảo có hơn 10 dự án du lịch đưa vào hoạt động hoặc tiếp tục đầu tư mở rộng, trong đó có những dự án lớn như: Resort Six Senses Côn Đảo (38 triệu USD), khu du lịch nghỉ mát Việt Nga (800 tỷ đồng), khu du lịch Poulo Condor, khu du lịch chất lượng cao Hotel Resort Regency Hyatt tại Đầm Trầu - Cỏ Ống (250 triệu USD)... Đặc biệt, resort Six Senses Côn Đảo do Công ty TNHH Côn Đảo làm chủ đầu tư vừa đưa vào sử dụng đã đoạt giải thưởng công trình xây dựng và thiết kế xuất sắc nhất thế giới tại giải thưởng International Commercial Property Awards do kênh truyền hình Bloomberg (Mỹ) tài trợ, khẳng định đẳng cấp dịch vụ tại Côn Đảo. Từ đó, lượng khách du lịch quốc tế đến Côn Đảo cũng ngày càng tăng mạnh, đặc biệt trong năm 2011, Côn Đảo đã đón hơn 11.500 lượt khách quốc tế, đạt hơn 230% kế hoạch, tăng 687% so với cùng kỳ 2010. Tháng 11-2011, sự kiện gia đình ngôi sao điện ảnh Brad Pitt và Angelina Jolie chọn Côn Đảo cho chuyến nghỉ mát thu hút sự quan tâm của nhiều kênh truyền thông nổi tiếng thế giới. Thêm một lần nữa khẳng định, thiên nhiên yên tĩnh, hoang sơ và cơ sở hạ tầng đẳng cấp, tiện nghi ở Côn Đảo đủ tiêu chuẩn phục vụ các đối tượng khách cao cấp quốc tế.
Theo ông Võ Anh Kiệt, Phó Chủ tịch UBND huyện Côn Đảo, nội dung Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Côn Đảo đến năm 2020, tầm nhìn 2030 xác định, Côn Đảo sẽ trở thành khu kinh tế du lịch - dịch vụ chất lượng cao, trong đó ưu tiên phát triển các loại hình du lịch biển đảo, sinh thái, nghỉ dưỡng cao cấp và du lịch văn hóa - lịch sử. Quy hoạch cũng đặt mục tiêu hoàn thành cơ bản cơ sở hạ tầng đủ sức đáp ứng nhu cầu lưu trú cho khoảng 64 ngàn lượt khách/năm vào năm 2015 và 150 ngàn lượt khách/năm vào năm 2020; đồng thời, phấn đấu đến năm 2030 đưa Côn Đảo trở thành đô thị du lịch tầm cỡ quốc gia và quốc tế, thu hút khoảng 250 - 300 ngàn lượt khách du lịch/năm, trong đó khách du lịch quốc tế chiếm 15-20%.
Côn Đảo có một mặt trông ra biển (vịnh Đông Nam), ba mặt còn lại vây quanh là núi. Chính nơi đây tập trung toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của cả quần đảo. Thị trấn Côn Đảo nằm ở khoảng giữa của sân bay Cỏ Ống và cảng Bến Đầm, là nơi tập trung dân cư, khu resort nghỉ dưỡng phục vụ du khách và các đơn vị hành chính của huyện Côn Đảo.
Bài, ảnh: HỒNG TRANG (Báo An Giang)

Bạn thấy website của chúng tôi như thế nào?


Bạn thấy website của chúng tôi như thế nào?
Rất đẹp
 
35.54%
145
Đẹp
 
19.36%
79
Xấu
 
18.63%
76
Rất xấu
 
26.47%
108
Tổng số lượt bình chọn: 408

hinh viec lam
hinh thi truc tuyen